Giao lưu trực tuyến “Chiếu xạ vải xuất khẩu – Vai trò của KHCN”
04/24/2018 09:24:19 AM


(ĐBNDO) – Nhằm đáp ứng yêu cầu bạn đọc và làm rõ vai trò quan trọng, tích cực, cụ thể của KHCN trong kiểm dịch thực vật góp phần mở rộng thị trường xuất khẩu hàng hóa nông sản nói chung và quả vải nói riêng sang các thị trường khó tính như Australia, Nhật, Mỹ… Báo điện tử Đại biểu Nhân dân tổ chức giao lưu trực tuyến với chủ đề: “Chiếu xạ vải xuất khẩu – Vai trò của KHCN”.

 
Phó tổng biên tập Báo ĐBND Nguyễn Quốc Thắng; PGĐ Trung tâm Nghiên cứu và phát triển truyền thông KHCN Trần Quang Tuấn tặng hoa các khách mời tham gia giao lưu (Ảnh: Duy Thông)
 
Chương trình giao lưu cũng góp phần thúc đẩy việc ứng dụng các tiến bộ KHCN trong quá trình sản xuất, chế biến nông sản; các biện pháp kiểm dịch thực vật hiện nay và khả năng triển khai ứng dụng tại Việt Nam giúp nâng cao giá trị, chất lượng sản phẩm, mang lại giá trị gia tăng cao cho người sản xuất và doanh nghiệp…
 
Các khách mời tham gia giao lưu gồm:
 
- TS Trần Minh Quỳnh, Phó giám đốc Trung tâm Chiếu xạ Hà Nội, Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam, Bộ Khoa học và Công nghệ;
 
- Ông Trần Văn Quang, Phó vụ trưởng Vụ Phát triển KH-CN địa phương, Bộ Khoa học và Công nghệ;
 
- Ông Lê Nhật Thành, Giám đốc Trung tâm kiểm dịch sau nhập khẩu I, Cục Bảo vệ thực vật, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn;
 
- Ông Đàm Quang Thắng, Tổng giám đốc Công ty TNHH Agricare Việt Nam;
 
- Ông Nguyễn Thanh Bình, Chủ tịch UBND huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
 
Nội dung giao lưu:
 
Ảnh: Duy Thông
 
Phạm Thụy Phương (38 tuổi), Giảng Võ, Hà Nội: Thưa ông, công nghệ chiếu xạ kiểm dịch thực vật với mục đích nâng cao chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm soát dịch bệnh có nguồn gốc từ nông sản cho đến nay không còn xa lạ. Vậy tại sao đến bây giờ công nghệ này mới được triển khai bài bản? Theo cá nhân ông, để áp dụng công nghệ này cần phải có những yếu tố gì?
 
Phó giám đốc Trần Minh Quỳnh: Chiếu xạ thực phẩm đã được nghiên cứu từ giữa thế kỷ trước, với rất nhiều bằng chứng khẳng định tính lành của thực phẩm chiếu xạ, cũng như tính hiệu quả của công nghệ chiếu xạ trong việc làm chậm chín hoa quả tươi, ức chế nảy mầm các loại củ (khoa tây, khoai lang, củ từ…) và bẹ (hành tây, tỏi tây), kiểm soát côn trùng, ký sinh trùng, dịch bệnh, tiêu diệt các vi sinh vật gây bệnh và giảm nhiễm khuẩn, nấm mốc có trong nông sản khô.
 
Công nghệ chiếu xạ đã được tổ chức y tế thế giới, cơ quan năng lượng nguyên tử, và tổ chức nông lương thế giới xem như biện pháp hiệu quả trong việc bảo đảm và nâng cao chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm soát dịch bệnh nguồn gốc thực phẩm. Xử lý chiếu xạ kiểm dịch đã được chứng minh là biện pháp hiệu quả trong việc kiểm soát sự phát tán của các côn trùng, sâu bệnh hại giữa các vùng, miển lãnh thổ. So với một số phương pháp kiểm dịch truyền thống khác như xử lý hơi nước nóng, nhiệt, hóa chất, chiếu xạ có thể được thực hiện với sản phẩm đã đóng gói, trên quy mô lớn và không để lại bất kỳ dư lượng độc hại nào, nên đã được cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) khuyến cáo sử dụng để kiểm soát côn trùng, dịch bệnh trong sản phẩm nông nghiệp xuất nhập khẩu.
 
Trong những năm gần đây, nhiều nước phát triển đã cho phép và khuyến khích áp dụng biện pháp chiếu xạ kiểm dịch đối với hàng nông sản, thậm chí một số quốc gia như Mỹ, Úc, Chi Lê xem đây là biện pháp kiểm dịch bắt buộc đối với nông sản nhập khẩu.
 
Ở Việt Nam, việc kiểm soát côn trùng giữa các vùng, miền trong nước chủ yếu dựa vào phương pháp xử lý hóa chất nên công nghệ này chưa được triển khai như kỳ vọng, dù chiếu xạ kiểm dịch đã được nghiên cứu từ cuối thế kỷ trước. Chỉ đến cuối 2008, khi Bộ Nông nghiệp Mỹ cho phép quả thanh long chiếu xạ từ Việt Nam được vào thị trường Mỹ, sau đó là chôm chôm năm 2010 và gần đây nhất, tháng 10 năm 2014 là vải, nhãn với yêu cầu phải kiểm dịch bắt buộc bằng chiếu xạ liều tối thiểu 400 Gy, công nghệ này mới được phát triển mạnh để xử lý kiểm dịch hoa quả tươi xuất khẩu.
 
Để áp dụng kỹ thuật chiếu xạ kiểm dịch thực vật, bảo đảm chất lượng nông sản xuất khẩu, trước tiên nông sản phải được trồng và thu hoạch theo Quy định về thực hành sản xuất nông nghiệp tốt VietGAP, tại vùng trồng được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cấp mã số vùng trồng (Production Unit Code). Sản phẩm nông nghiệp phải được đóng gói theo đúng quy định tại cơ sở đóng gói có đăng ký (Packing House Code), và được Cục Bảo vệ thực vật xác nhận là đạt yêu cầu kiểm dịch.
 
Cơ sở chiếu xạ cần phải trang bị hệ thống kho chứa và bảo quản phù hợp, bảo đảm các tiêu chuẩn vệ sinh an toàn, quá trình chiếu xạ được vận hành theo Quy trình chuẩn (Standard Operation procedures), và phân bố liều hấp thụ trong thùng hàng đối với mỗi loại sản phẩm chiếu xạ phải được xác định và báo cáo cho quốc gia nhập khẩu để được cho phép xử lý chiếu xạ.
 
Trần Thành Xuân (56 tuổi), Lục Ngạn, Bắc Giang: Để xuất khẩu quả vải tươi của Việt Nam vào thị trường khó tính phải bảo đảm một số yêu cầu khắt khe như vùng trồng và cơ sở trồng vải phải áp dụng biện pháp canh tác, quản lý sinh vật gây hại và thu hoạch bảo đảm giảm thiểu sinh vật gây hại trên quả vải, áp dụng Thực hành sản xuất nông nghiệp tốt (GAP) và được Cục Bảo vệ thực vật kiểm tra, cấp mã số. Vậy, theo ông, vùng trồng nguyên liệu đã đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu đặt ra chưa và ông có khuyến nghị cho cho những người trồng vải?
 
Giám đốc Lê Nhật Thành: Về thực chất, chỉ khi vùng nguyên liệu đáp ứng đầy đủ yêu cầu đặt ra thì Cục Bảo vệ thực vật mới cấp mã số vùng trồng. Theo yêu cầu cũng không cần thiết phải có giấy chứng nhận của VIETGAP hoặc GLOBALGAP mà vấn đề ở đây là phải làm theo quy trình của VIETGAP hoặc GLOBALGAP.
 
Hiện nay, người dân trồng vải ở khu vực phía Bắc đã được Trung tâm Kiểm dịch thực vật sau nhập khẩu I, Cục Bảo vệ thực vật phối hợp với Chi cục Bảo vệ thực vật của các tỉnh tập huấn, hướng dẫn sản xuất vải theo yêu cầu của Úc. Chính vì vậy, lời khuyên cho người trồng vải là tuân thủ nghiêm ngặt những quy trình theo hướng dẫn của các cơ quan trung ương và địa phương; thay đổi tập quán canh tác theo hướng sản xuất hàng hóa, nâng cao chất lượng quả vải để đạt tiêu chuẩn xuất khẩu sang Úc.
 
Phạm Văn Hải (46 tuổi), Khoái Châu, Hưng Yên: Thưa ông Nguyễn Thanh Bình, tôi được biết, Bắc Giang dẫu là địa phương đi sau trong việc trồng cây vải thiều, nhưng chất lượng và giá cả vải thiều Bắc Giang những năm gần đây luôn cao hơn những vùng khác, kể cả ở nơi vùng đất gốc của vải thiều (Thanh Hà, Hải Dương). Ông có thể cho biết là vì sao?
 
Chủ tịch UBND Nguyễn Thanh Bình: Cây vải thiều du nhập vào Lục Ngạn từ năm 1953 được trồng tại thôn Thủ Dương, xã Nam Dương. Khi đó, các hộ dân nơi đây chỉ trồng để tự phục vụ nhu cầu trong gia đình, sau một thời gian thấy chất lượng quả vài trồng tại Lục Ngạn thơm ngon hơn ở nơi bản xứ, nên đến đầu thập kỷ 90 thế kỷ trước cây vải được trồng rộng rãi với diện tích trên 19.000 ha.
 
Có thể nói, chất lượng quả vải được trồng ở Lục Ngạn ngon hơn tại các vùng khác là do: thứ nhất, điều kiện khí hậu thổ nhưỡng phù hợp với cây vải thiều nói riêng và các loài cây ăn quả nói chung. Vùng đất Lục Ngạn được bao bọc bởi vòng cung của dãy núi Đông Triều tạo nên tiểu vùng khí hậu rất đặc trưng như: sự chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm rất lớn; mưa xuân đến muộn hơn so với nơi khác làm cho sự ra hoa và đậu quả tốt hơn. Về đất đai, nơi đây cũng đặc thù chủ yếu là đất feralit, tầng đất dầy rất phù hợp với cây vải thiều. Thứ hai, do kỹ thuật canh tác của nông dân nên chất lượng sản phẩm tốt hơn và giá cả cao hơn các vùng khác.
 
Lê Kim Hoa (40 tuổi), Bình Thạch, TP Hồ Chí Minh: Thưa ông, chiếu xạ thực phẩm đã được Nhà nước Việt Nam cấp phép chưa? Giới hạn liều chiếu cho từng loại thực phẩm được quy định như thế nào? Cơ sở chiếu xạ có trách nhiệm gì đối với thực phẩm chiếu xạ?
 
TS Trần Minh Quỳnh, Phó giám đốc Trung tâm Chiếu xạ Hà Nội giao lưu cùng bạn đọc.(Ảnh: Duy Thông)
 
Phó giám đốc Trần Minh Quỳnh: Sau nhiều bằng chứng khoa học trong và ngoài nước về các ưu điểm công nghệ và tính lành của thực phẩm chiếu xạ, ngày 14.10.2014, Bộ Y tế Việt Nam đã ban hành Quyết định số 3616/2004/QĐ-BYT cho phép xử lý chiếu xạ với 7 nhóm thực phẩm cho mục đích ức chế nảy mầm đối với cây thân củ và thân bẹ, làm chậm chín hoa quả tươi, diệt côn trùng, ký sinh trùng, vi sinh vật gây bệnh, kiểm dịch thực vật, giảm nhiềm vi khuẩn, nấm mốc và kéo dài thời gian bảo quản nông sản thực phẩm. Phụ thuộc vào mục đích chiếu xạ, liều chiếu xạ tối thiểu và tối đa được quy định cho từng nhóm thực phẩm cụ thể.
 
Tuy nhiên, theo Ủy ban hỗn hợp về chiếu xạ thực phẩm của Tổ chức nông lương thế giới (FAO), Tổ chức y tế thế giới (WHO) và Cơ quan năng lượng nguyên tử Quốc tế (IAEA), chiếu xạ với liều dưới 10 kGy không gây ra bất kỳ vấn đề gì về dinh dưỡng, sinh học và độc học của thực phẩm. Ngoài trách nhiệm bảo đảm an toàn bức xạ và hạt nhân, cơ sở chiếu xạ có trách nhiệm tư vấn cho khách hàng về liều chiếu xạ đáp ứng các yêu cầu đối với sản phẩm chiếu xạ về chất lượng sản phẩm, khả năng bảo quản và độ sạch sinh học, và thực hiện việc chiếu xạ với liều chiếu xác định trong giới hạn quy định của Bộ Y tế Việt Nam hoặc quốc gia nhập khẩu. Cơ sở chiếu xạ cũng phải đánh giá liều hấp thụ tối đa (Dmax) và tối thiểu (Dmin) của thực phẩm được chiếu xạ để lưu giữ và thông báo cho khách hàng.
 
Lê Thanh Vân (54 tuổi), Cầu Diễn, Hà Nội: Lô vải xuất khẩu sang thị trường Úc lần đầu tiên được thực hiện chiếu xạ ngay tại Trung tâm chiếu xạ Hà Nội vào ngày 23.6.2016 vừa qua. Đây là lô vải của hai doanh nghiệp là Công ty trách nhiệm hữu hạn Rồng Đỏ và Công ty trách nhiệm hữu hạn Agricare với số lượng khoảng hơn 2 tấn vải tươi. Theo ông, với tiến độ như hiện nay liệu có đủ lượng với xuất khẩu khi đơn đặt hàng từ các thị trường khó tính ngày càng tăng? Liệu Trung tâm Chiếu xạ Hà Nội có đáp ứng kịp nhu cầu xuất khẩu?
 
Tổng giám đốc Đàm Quang Thắng: Là một trong những công ty xuất khẩu những lô hàng đầu tiên sang thị trường Úc thông qua trung tâm chiếu xạ Hà Nội, đến thời điểm hiện nay, lô hàng đã được tiêu thụ hết và được người tiêu dùng tại Úc bao gồm cả người dân Úc và người dân Việt Nam sinh sống tại Úc đánh giá rất cao về chất lượng. Các đối tác nhập khẩu Úc rất hài lòng về hình thức, mẫu mã và chất lượng lô hàng của công ty.
 
Sau những lô hàng thăm dò thị trường đầu tiên, thời điểm này công ty đang tập trung mở rộng thị trường. Hiện tại công ty đang làm việc với các hợp tác xã, Hội Nông dân để tiếp tục thu mua, sơ chế, xuất khẩu sang Úc và một số thị trường các nước châu Âu.
 
Sản lượng hiện tại của các vùng trồng vải xuất khẩu vẫn đang trong thời điểm chính vụ nên số lượng vẫn bảo đảm với nhu cầu của công ty. Tuy nhiên, công ty lựa chọn vùng đã được định vị mã số vùng trồng do Trung tâm kiểm dịch sau nhập khẩu I, Cục Bảo vệ thực vật, Bộ NN và PTNT để bảo đảm chất lượng an toàn thực phẩm tốt nhất và đáp ứng yêu cầu xuất nhập khẩu của Việt Nam và Úc.
 
Là năm đầu tiên công ty xuất khẩu và chiếu xạ thông qua Trung tâm chiếu xạ Hà Nội với công xuất khoảng 20 tấn/ ngày nếu ưu tiên toàn bộ để chiếu xạ cho vải. Với thời điểm hiện nay, công suất như vậy có thể đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp. Tuy nhiên, khi vải đã chiếm lĩnh được thị trường Úc, lượng xuất khẩu sẽ tăng lên, khi đó, công suất chiếu xạ của Trung tâm Chiếu xạ Hà Nội cần tăng thêm để đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp, bởi vải là sản phẩm mùa vụ, việc thu hoạch và xuất khẩu diễn ra trong thời gian rất ngắn.
 
Vũ Tiến Nam (35 tuổi), Lục Ngạn, Bắc Giang: Nhiều lô vải của Việt Nam đã xuất khẩu sang được thị trường khó tính, tuy vậy chúng ra không chỉ chú trọng nâng cao năng suất sản lượng quả vải mà chúng ta phải chú trọng nhiều hơn về thị trường tiêu thụ cũng như khâu chế biến. Theo ông, làm thế nào để phát triển loại cây ăn quả này một cách bền vững cũng như tạo thương hiệu riêng, đặc biệt là giúp người nông dân thoát khỏi nỗi ám ảnh "được mùa rớt giá”?
 
Phó vụ trưởng Vụ Phát triển KHCN địa phương, Bộ KHCN Trần Văn Quang  giao lưu cùng bạn đọc (Ảnh: Duy Thông) 
 
Phó vụ trưởng Trần Văn Quang: Phát triển bền vững sản phẩm nông sản nói chung, quả vải nói riêng là cả một chuỗi trong quá trình sản xuất và tiêu thụ. Nó phụ thuộc vào các khâu trong cả quá trình đó, đòi hỏi phải được đồng bộ và tuân thủ rất nghiêm túc, nhất là trong khâu sản xuất. Khi có sản phẩm ổn định thì việc ổn định giá mới có thể giải quyết được.
 
Hiện nay, khâu chế biến và phát triển thị trường đang là hai khâu yếu nhất. Nhà nước cũng đã có nhiều hỗ trợ trong tất cả các khâu như chúng ta đã thấy. Thứ nhất là sản xuất: đã quan tâm đến vấn đề sản xuất sạch theo các tiêu chuẩn chung của thế giới như VietGap, GlobalGAP… Các mô hình sản xuất này đã giúp đưa ra thị trường nhiều sản phẩm nông sản sạch, an toàn cho sức khỏe người sử dụng, đồng thời giảm các tác động xấu đến môi trường
 
Thứ hai là chế biến, bảo quản: Vấn đề công nghệ chế biến và bảo quản đến nay không phải là bài toán quá khó. Vấn đề là hiệu quả đầu tư và giá thành bảo quản đang tiếp tục được nghiên cứu cho phù hợp với từng quy mô và từng loại nông sản
 
Thứ ba là về thị trường: Đã có rất nhiều hoạt động hỗ trợ như xây dựng thương hiệu, Bộ KHCN đã tham mưu và được Chính phủ phê duyệt Chương trình phát triển TSTT ngay từ năm 2005 – còn được gọi là Chương trình 68, nay vẫn đang được tiếp tục sẽ kéo dài đến năm 2020. Rất nhiều sản phẩm hàng hóa đã được nhà nước bảo hộ thương hiệu. Các Bộ, ngành cũng đã nhiều hoạt động phát triển thị trường thông qua hoạt động quảng bá, xúc tiến thương mại… Các địa phương cũng đã phê duyệt Chương trình Phát triển TSTT và tổ chức xúc tiến thương mại thông qua quảng bá, tổ chức các hội chợ ở cấp tỉnh với nhiều cách khác nhau và đã mang lại hiệu quả rất thiết thực. Nhận thức của dân chúng về xây dựng và giữ thương hiệu sản phẩm đến nay đã đạt được bước phát triển đáng kể, đã trở thành thói quen và sự vào cuộc của các doanh nghiệp và người dân như chúng ta đã thấy trong thời gian gần đây.
 
Nguyễn Văn Hằng (47 tuổi), Thanh Hà, Hải Dương: Để tiến tới việc xuất khẩu quả vải sang thị trường Úc – một trong những thị trường khó tính, Trung tâm đã triển khai những hoạt động cụ thể nào, thưa ông?
 
Giám đốc Trung tâm kiểm dịch sau nhập khẩu I, Cục Bảo vệ thực vật, Bộ NN và PTNT Lê Nhật Thành  giao lưu cùng bạn đọc (Ảnh: Duy Thông)
 
Giám đốc Lê Nhật Thành: Hiện nay quả vải đã được Úc cho phép nhập khẩu, tức là ta đã xuất khẩu sang Úc chứ không phải tiến tới như bạn nói nữa. Để được Úc chấp nhận, Trung tâm Kiểm dịch thực vật sau nhập khẩu I đã triển khai các công việc sau:
 
- Hướng dẫn nông dân tuân thủ đúng các điều kiện mà phía Úc yêu cầu bao gồm: chăm sóc cây vải, sử dụng thuốc trừ sâu, sử dụng nguồn nước tưới, dọn vệ sinh đồng ruộng… để đạt tiêu chuẩn cấp mã số vùng trồng.
 
- Hướng dẫn các doanh nghiệp thực hiện việc thu mua vải tại các mã số đã được Cục Bảo vệ thực vật cấp, đóng gói tại các nhà máy đóng gói phải được Cục Bảo vệ thực vật kiểm tra và cấp mã số vùng trồng. Trên mỗi thùng hàng đều được dán tem ghi đầy đủ thông tin theo quy định của Úc.
 
- Cục Bảo vệ thực vật yêu cầu cơ sở chiếu xạ lập hồ sơ sau đó Cục Bảo vệ thực vật lập đoàn kiểm tra, nếu đạt yêu cầu, Cục Bảo vệ thực vật sẽ cấp mã số và gửi toàn bộ hồ sơ mà mã số đã được cấp sang phía Úc.
 
- Tiếp đó, Trung tâm Kiểm dịch thực vật sau nhập khẩu I phối hợp với Trung tâm Chiếu xạ Hà Nội tiến hành thí nghiệm chiếu xạ để đo liều lượng chiếu xạ cho những quy cách đóng gói khác nhau, rồi gửi sang Úc để xem xét. Nếu Úc chấp nhận thì cơ sở chiếu xạ mới được phép chiếu xạ quả vải để xuất khẩu sang Úc (hiện nay phía Úc đã chấp nhận).
 
Phí Văn Ngà (38 tuổi), Tiên Lãng, Hải Phòng: Xin hỏi ông Thắng, trong một bài phỏng vấn mới đây, ông có chia sẻ, việc chiếu xạ tại Hà Nội sẽ giảm tới khoảng 20.000 đồng/kg so với việc chuyển vào TP Hồ Chí Minh để thực hiện chiếu xạ. Theo đó, vấn đề lợi nhuận tất nhiên sẽ tốt hơn cho doanh nghiệp. Theo ông, liệu đây sẽ là một thuận lợi cho các doanh nghiệp xuất khẩu vải vì nguồn vải nguyên liệu chủ yếu nằm ở các tỉnh phía Bắc?
 
Tổng giám đốc Đàm Quang Thắng: Chiếu xạ tại Hà Nội là một thuận lợi lớn đối với các công ty xuất khẩu vải nói chung và công ty Agircare nói riêng. Những lô hàng trước, công ty vẫn phải chuyển vào chiếu xạ tại TP Hồ Chí Minh. Bên cạnh những chi phí phát sinh khoảng 20.000đồng/kg, thời gian vận chuyển khoảng 1/2 ngày cũng là một trong những bất lợi vì điều này ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng quả vải.
 
Bên cạnh đó, nguồn nguyên liệu chủ yếu ở 2 tỉnh phía Bắc là Hải Dương và Bắc Giang, vì thế việc chiếu xạ tại Hà Nội sẽ có ý nghĩa rất lớn với doanh nghiệp giúp tăng lợi nhuận cho các phía là doanh nghiệp, người trồng vải, đối tác và người tiêu dùng.
 
Nguyễn Như Trang (28 tuổi), Thạch An, Cao Bằng: Chiếu xạ có làm thực phẩm bị nhiễm xạ, có tạo ra các chất độc hại cho thực phẩm, thưa ông Quỳnh?
 
Phó giám đốc Trần Minh Quỳnh: Trước hết phải khẳng định chiếu xạ không làm thực phẩm bị nhiễm xạ, cũng như không tạo ra bất kỳ chất độc nếu thực phẩm được xử lý ở liều trung bình dưới 10 kGy. Vì các nguồn năng lượng sử dụng trong công nghệ bức xạ như tia gamma, tia X, chùm điện tử gia tốc (kể cả máy gia tốc Electron Beam có năng lượng đến 10 MeV) không có năng lượng đủ mạnh để làm cho thực phẩm nhiễm xạ, giống như hàng hóa được soi chiếu bằng tia X không trở thành vật phóng xạ. Hơn nữa, thực phẩm không thể bị nhiễm xạ vì chúng không bao giờ tiếp xúc trực tiếp với nguồn chiếu.
 
Trong thực tế, thực phẩm bị nhiễm xạ là thực phẩm hấp thụ các chất phóng xạ thoát ra từ các sự cố liên quan đến lò phản ứng hạt nhân, các vụ thử bom nguyên tử. Sự nhiễm xạ như vậy không liên quan đến chiếu xạ có kiểm soát và được giới hạn về mức năng lượng được áp dụng trong chiếu xạ thực phẩm. Bức xạ chỉ gây ra những biến đổi hóa học không đáng kể và có thể xem là vô hại đối với thực phẩm giống như trong quá trình xử lý nhiệt. Các sản phẩm phân ly phóng xạ đã được nghiên cứu kỹ lưỡng ở nhiều nước từ giữa thế kỷ trước và không có bằng chứng nào về tính độc của chúng đối với thực phẩm chiếu xạ. Như vậy, người dân hoàn toàn yên tâm sử dụng thực phẩm chiếu xạ bởi chất lượng thực phẩm vẫn bảo đảm, điều kiện an toàn vệ sinh thực phẩm được tăng lên. Thậm chí hiện nay, trên thế giới người ta sử dụng thực phẩm được chiếu xạ liều cao đến 45kGy để sản xuất các bữa ăn vô trùng dành cho các bệnh nhân ghép tạng, các nhà du hành vũ trụ.
 
Nguyễn Anh Đức (52 tuổi), Hoài Đức, Hà Nội: Những lô hàng vải thiều chiếu xạ đầu tiên đã được xuất khẩu sang thị trường Úc khó tính, vậy cá nhân ông đánh giá như thế nào về vai trò của Trung tâm Chiếu xạ Hà Nội cũng như của KHCN trong hoạt động này?
 
Tổng giám đốc Công ty TNHH Agricare Việt Nam Đàm Quang Thắng giao lưu cùng bạn đọc (Ảnh: Duy Thông) 
 
Tổng giám đốc Đàm Quang Thắng: Khi thực hiện chiếu xạ vải tại Trung tâm chiếu xạ Hà Nội, chúng tôi nhận được rất nhiều sự hỗ trợ và đồng hành của lãnh đạo và cán bộ, công nhân viên của Trung tâm kể cả về thời gian và nguồn nhân lực. Có những lô hàng về vào thời điểm nửa đêm nhưng Trung tâm vẫn túc trực tiếp nhận để bảo đảm lô hàng trong điều kiện tốt nhất phục vụ chiếu xạ.
 
KH và CN ngày càng giữi vai trò then chốt trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt trong lĩnh vực xuất khẩu nông sản. Những lô hàng của công ty xuất khẩu đều được ứng dụng KH và CN từ khâu thu hoạch, sơ chế đến khi xuất khẩu với sự hỗ trợ và vào cuộc của Trung tâm kiểm dịch sau nhập khẩu I, Cục Bảo vệ thực vật, Viện Cơ điện và công nghệ sau thu hoạch, Bộ NN và PTNT và Trung tâm Chiếu xạ Hà Nội, Bộ KH và CN.
 
 
Trần Anh Tú (48 tuổi), Thủ Đức, Tp Hồ Chí Minh: Nhiều nhà khoa học cho rằng, công nghệ dù có tốt mấy nhưng cũng cần tính đến yếu tố đặc thù của địa phương, vì vậy cần có lộ trình áp dụng công nghệ cho phù hợp. Không thể áp dụng một cách máy móc, ồ ạt mà thiếu phương án đưa công nghệ theo từng giai đoạn? Ý kiến của ông về vấn đề này như thế nào?
 
Phó vụ trưởng Trần Văn Quang: Như trên đã nêu, vấn đề công nghệ trong chế biến và bảo quản sản phẩm nông sản nói chung và quả vải nói riêng không phải là bài toán quá khó. Chúng ta đã triển khai áp dụng rất nhiều công nghệ để bảo quản cá ngừ, tôm, cá… phục vụ cho xuất khẩu. Riêng quả vải cũng đã áp dụng nhiều hình thức như sử dụng chất bảo quản, bảo quản bằng màng, bảo quản theo công nghệ CAS, cấp đông nhanh và đến nay là chiếu xạ…
 
Đã có rất nhiều doanh nghiệp đầu tư các dây chuyền chế biến và bảo quản có công suất lớn như ở phía Nam mà chúng ta đã thấy. Ở phía bắc phải kể đến Công ty XNK Đồng Giao Ninh Bình, mỗi năm cũng đã bảo quản và tiêu thụ gần 4.000 tấn vải và các sản phẩm khác như dứa, hoa quả để xuất khẩu đi các nước và gần đây nhất là sử dụng công nghệ chiếu xạ tại Trung tâm chiếu xạ Hà Nội cho các loại hoa quả.
 
Đúng là không thể nóng vội được, cần phải có lộ trình. Vấn đề đặt ra là hiệu quả đầu tư cần phải được lựa chọn cho phù hợp với từng vùng miền, với từng loại nông sản. 
 
Hiện Bộ KHCN và các địa phương đang tiếp tục có nghiên cứu, cải tiến và đưa ra các tiến bộ kỹ thuật trong bảo quản và chế biến cho phù hợp với từng quy mô và từng vùng miền. Để làm được điều này đòi hỏi phải có sự vào cuộc của cả chính quyền địa phương và người dân, phải hoạch định được chiến lược phát triển sản phẩm hàng hóa có quy mô để việc vận hành các công nghệ được bảo đảm mang lại hiệu quả kinh tế.
 
Nguyễn Văn Điệp (54 tuổi), Kim Bôi, Hòa Bình: Không thể phủ nhận được việc nông sản đẹp, ngon là nhờ... công nghệ, để phát triển thế mạnh của tỉnh trong việc trồng và nâng cao năng suất cây vải, tỉnh Bắc Giang đã có những chủ trương và chiến lược cụ thể như thế nào? Đặc biệt là việc đẩy mạnh áp dụng công nghệ trồng vải theo tiêu chuẩn VietGap và GlobalGap, thưa ông Bình?
 
Chủ tịch UBND huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang Nguyễn Thanh Bình giao lưu cùng bạn đọc (Ảnh: Duy Thông)
 
Chủ tịch UBND Nguyễn Thanh Bình: Cũng phải khẳng định rằng, chất lượng nông sản vừa ngon, vừa đẹp, ngoài điều kiện đất đai thổ nhưỡng thì vai trò của KHCN là rất lớn. Cho nên, từ năm 2005, huyện Lục Ngạn đã nhờ trung tâm sinh học của Viện Bảo vệ thực vật, Bộ Nông nghiệp và PTNT triển khai thí điểm 5ha vải thiều sản xuất theo tiêu chuẩn VietGap, được đánh giá là rất thành công. Từ năm 2006 huyện bắt đầu xây dựng kế hoạch để triển khai mở rộng diện tích sản xuất vải thiều theo tiêu chuẩn VietGap. Đến nay, sau 10 năm triển khai đã có 10.500ha vải thiều được sản xuất theo tiêu chuẩn VietGap.
 
Cũng từ năm 2014, huyện Lục Ngạn được Viện Nghiên cứu và phát triển vùng của Bộ KHCN giúp triển khai 5ha vải thiều sản xuất theo tiêu chuẩn GlobalGap. Đến nay, trên địa bàn huyện đã mở rộng được 217ha với 18 mã vùng được sản xuất theo tiêu chuẩn GlobalGap. Qua quá trình theo dõi cho thấy, vải thiều sản xuất theo tiêu chuẩn VietGap và GloBalGap năng suất cao hơn từ 20 - 30% so với canh tác bình thường, mẫu mã cũng đẹp hơn, chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm cũng bảo đảm hơn, cho nên giá trị cũng tăng từ 20 - 30%.
 
Vừa qua, huyện Lục Ngạn đã phối hợp với Viện Quy hoạch nông nghiệp của Bộ Nông nghiệp và PTNT xây dựng quy hoạch phát triển cây ăn quả trên địa bàn huyện. Theo đó, giữ ổn định diện tích vải thiều là 16.000ha, còn các diện tích ở trên đồi cao hoặc ở vùng trũng thì sẽ chuyển sang trồng các loài cây khác phù hợp hơn như bưởi da xanh, bưởi diễn, cam vinh, cam V2, cam đường canh và táo BG6... có giá trị kinh tế cao hơn. Riêng đối với vải thiều sẽ tiếp tục chỉ đạo mở rộng diện tích theo tiêu chuẩn VietGap lên 12.500ha.
 
Đặng Thành Công (46 tuổi), Đoan Hùng, Phú Thọ: Việc trồng quả vải theo đúng quy trình Viet Gap, Global Gap đã mang lại hiệu quả bước đầu như: giá trị kinh tế, thương hiệu… Ông đánh giá như thế nào về vai trò của KHCN trong hoạt động chế biến quả vải nói riêng và xuất khẩu hàng hóa nông sản của Việt Nam nói chung trong quá trình hội nhập?
 
Giám đốc Lê Nhật Thành: Như bạn đã biết, việc sản xuất ra quả vải đạt tiêu chuẩn xuất khẩu là cả một quá trình vô cùng nghiêm ngặt, song vấn đề xuất khẩu quả tươi thực sự đang là khó khăn cho các doanh nghiệp, đặc biệt liên quan đến chế biến và bảo quản nông sản.
 
Ảnh: Duy Thông
 
Trên thế giới, ngành công nghiệp chế biến và bảo quản luôn đi song hành với sản xuất nông nghiệp để tiêu thụ nông sản trên các thị trường được thuận lợi. Ở Việt Nam, mặc dù đã được Nhà nước quan tâm nghiên cứu và đầu tư đến công nghệ chế biến và bảo quản nông sản song vẫn đang còn nhiều hạn chế. Trong rất nhiều hội nghị liên quan đến vấn đề xuất khẩu nông sản, công nghệ chế biến và bảo quản luôn được nhắc đến rất nhiều, nó như một nhu cầu cấp bách hiện nay. Đây là mấu chốt để giải quyết vấn đề đầu ra cho nông sản. Công việc này là của KHCN, chính là bài toán nan giải đặt ra cho ngành KH và CN.
 
Trần Ngọc Tình (50 tuổi), Hoằng Hóa, Thanh Hóa: Ông kỳ vọng gì về khi có sự bắt tay giữa các bộ, ngành cho trong việc thúc đẩy nâng cao giá trị quả vải nói riêng và mặt hàng nông sản nói chung?
 
Tổng giám đốc Đàm Quang Thắng: Việc phối hợp giữa các Bộ, ngành và đồng hành với các doanh nghiệp trong việc xây dựng thương hiệu và nâng cao giá trị nông sản là hết sức cần thiết và được doanh nghiệp đánh giá rất cao. Đặc biệt trong việc mở cửa xuất khẩu, xúc tiến thương mại cho quả vải và quả nhãn... tới các thị trường khó tính trong thời gian vừa qua.
 
Để nông sản Việt Nam đến với thị trường thế giới, đặc biệt những nước khó tính thì vai trò của Bộ KHCN và Bộ NN và PTNT là hết sức quan trọng. Bộ NN và PTNT, cụ thể là Cục Bảo vệ thực vật, Trung tâm kiểm dịch sau nhập khẩu I là đơn vị tiên phong mở cửa thị trưởng, thực hiện công việc giám sát quy trình bao gồm kiểm soát mã số vùng trồng, nhà máy đóng gói, kiểm dịch thực vật để bảo đảm an toàn thực phẩm, đáp ứng yêu cầu của thi trường khó tính. Bên cạnh đó, Bộ NN và PTNT đã hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu vải về cơ sở sơ chế và đóng gói (không thu phí), tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp xuất khẩu có được quả vải chất lượng và an toàn nhất.
 
Bộ KHCN đã nỗ lực hỗ trợ ứng dụng KHCN vào sản xuất, đặc biệt hoàn thành thủ tục để quả vải được chiếu xạ tại Trung tâm chiếu xạ Hà Nội trước khi xuất đi sang các thị trường có yêu cầu chiếu xạ. Tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tiết kiệm thời gian và chi phí.
 
Ngoài ra, Bộ Công thương cũng đang tiến hành hỗ trợ doanh nghiệp trong việc đưa sản phẩm nông sản ra thị trường thế giới, giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường.
 
Phan Văn Thăng (47 tuổi), Lục Ngạn, Bắc Giang: Là địa phương được hưởng lợi từ việc áp dụng KHCN, ông có thể cho biết những kết quả đạt được từ khi áp dụng KHCN trong việc nâng cao giá trị quả vải? Địa phương có kiến nghị gì để duy trì những thành quả này không, thưa ông?
 
Chủ tịch UBND Nguyễn Thanh Bình: Cái đạt được lớn nhất là nhận thức của người nông dân trong việc tích cực tham gia ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Người dân luôn hào hứng đón nhận những thành tựu khoa học mới được triển khai trên địa bàn, giúp cho các cơ quan Nhà nước dễ dàng triển khai các chính sách và đưa các tiến bộ khoa học vào cuộc sống. Người dân được hưởng lợi từ việc áp dụng KHCN như thu nhập cao hơn, đời sống từ vật chất đến tinh thần được cải thiện; xã hội ổn định và phát triển.
 
Để duy trì và phát huy những thành quả đã đạt được đề nghị các bộ, ngành Trung ương, các cơ quan cho thí điểm công nghệ tưới nhỏ giọt của Isarel đối với diện tích cây ăn quả của huyện; nghiên cứu các loại phân bón thuốc bảo vệ thực vật (theo công nghệ sinh học) để giảm thiểu ô nhiễm môi trường; hỗ trợ cấp chứng nhận diện tích được sản xuất theo tiêu chuẩn GlobalGap và VietGap...
 
Kim Dung (42 tuổi), Bảo Lộc, Lâm Đồng: Xin hỏi ông Quỳnh, tính ưu việt của công nghệ chiếu xạ kiểm dịch thực vật đối với nông sản xuất khẩu của Việt Nam nói chung và quả vải nói riêng là?
 
Phó giám đốc Trần Minh Quỳnh: Công nghệ chiếu xạ thực phẩm sử dụng các máy chiếu xạ gamma từ đồng vị cobalt-60 và máy gia tốc điện tử năng lượng dưới 10 MeV đã khẳng định được tính ưu việt trong kiểm dịch thực vật, do khả năng xử lý sản phẩm nông nghiệp đã bao gói trên quy mô lớn, thời gian xử lý nhanh nên rất phù hợp để kiểm soát côn trùng, dịch bệnh đối với nông sản xuất khẩu. Tôi cho rằng, trong thời gian tới chắc chắn công nghệ chiếu xạ sẽ được nhiều nước chấp nhận như là biện pháp kiểm dịch đối với hàng nông sản xuất và nhập khẩu.
 
Ảnh: Duy Thông
 
Thuận Hằng (41 tuổi), Mang Thít, Vĩnh Long: Dưới góc độ quản lý KHCN, ông có thể cho biết vai trò của Nhà nước trong việc thúc đẩy ứng dụng KHCN đối với hàng nông sản nói chung và quả vải nói riêng?
 
Phó vụ trưởng Trần Văn Quang: Chúng ta đều biết, KHCN tác động đến mọi khâu trong quá trình sản xuất sản phẩm. Sản xuất nông sản theo hướng sạch đã và đang được các nhà khoa học và ngành chức năng khẳng định là hướng đi tất yếu nhằm bảo đảm các yếu tố bền vững cho môi trường, an toàn cho người sản xuất và người sử dụng sản phẩm… Trong đó, Nhà nước có vai trò rất quan trọng trong tất cả các khâu của quá trình sản xuất, từ việc nghiên cứu tạo giống, xây dựng quy trình trồng và chăm sóc, tạo ra công nghệ bảo quản và chế biến sản phẩm, tạo dựng thương hiệu và xúc tiến phát triển thị trường. Tất nhiên, cũng cần phải thấy rằng, Nhà nước không làm thay mà chỉ đóng vai trò "bà đỡ" để tạo dựng các nghiên cứu bước đầu, hỗ trợ các tổ chức, cá nhân có được các khâu trong quá trình sản xuất.
 
Thực tế đã cho thấy, hầu hết các sản phẩm được khẳng định trên thị trường hiện nay đều đã được nghiên cứu và triển khai áp dụng một cách khá bài bản ở toàn bộ các khâu trong quá trình sản xuất. Việc triển khai, duy trì và phát triển sản phẩm đó là trách nhiệm của mọi người khi tham gia chuỗi sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, điều đó cho thấy rất cần sự vào cuộc của tất cả mọi người.
 
Nguyễn Khắc Hiệp (53 tuổi), Việt Yên, Bắc Giang: Việc xuất khẩu vải thiều đi thị trường Úc đòi hỏi những điều kiện, yếu tố kỹ thuật khắt khe như thế nào, thưa ông Thành?
 
Cán bộ Chi cục Bảo vệ Thực vật Hà Nội đang thực hiện quy trình kiểm dịch thực vật trên từng quả vải trước khi đem đi chiếu xạ.(Nguồn: baomoi.com)
 
Giám đốc Lê Nhật Thành: Như tôi đã trả lời ở trên, để xuất khẩu đi Úc, quả vải phải đạt những yêu cầu sau:
 
1. Phải được cấp mã số vùng trồng;
 
2. Đóng gói, ghi nhãn;
 
3. Phải được xử lý chiếu xạ;
 
4. Lô vải xuất khẩu phải được kiểm dịch thực vât, đáp ứng yêu cầu nhập khẩu của Úc và có giấy chứng nhận kiểm dịch thực vật do cơ quan kiểm dịch thực vật Việt Nam cấp.
 
Mỗi yêu cầu lại được quy định rất cụ thể, bạn có thể vào trang web của Cục Bảo vệ thực vật để tìm hiểu thêm.
 
Bảo Long (45 tuổi), Đống Đa, Hà Nội: Xin hỏi ông Quỳnh, ông có thể cho biết rõ hơn về cơ sở vật chất và khả năng xử lý chiếu xạ thực phẩm tại Trung tâm? Để xử lý chiếu xạ kiểm dịch “mẻ” vải đầu tiên xuất khẩu sang Úc một cách thành công như vừa qua, Trung tâm đã có những chuẩn bị như thế nào, thưa ông?
 
Phó giám đốc Trần Minh Quỳnh: Sau khi Dự án “Cải tạo và nâng cấp cơ sở hạ tầng của Trung tâm Chiếu xạ Hà Nội phục vụ chiếu xạ kiểm dịch hoa quả tươi xuất khẩu” được Bộ KHCN phê duyệt và cấp kinh phí thực hiện, Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam đã chỉ đạo Trung tâm khẩn trương triển khai Dự án. Chỉ trong một thời gian ngắn, chúng tôi đã tập trung xây mới hệ thống kho đầu vào, trang bị hai kho lạnh diện tích 200 m2 để bảo quản nông sản trước và sau khi chiếu xạ, cũng như thực hiện một số hạng mục khác. Có thể nói, với việc nâng cấp cơ sở hạ tầng này, Trung tâm có khả năng xử lý chiếu xạ thực phẩm cho nhiều mục đích khác nhau, từ ức chế nảy mầm, làm chậm chín hoa quả tươi đến giảm nhiễm vi sinh vật đối với thực phẩm khô…
 
Để được xử lý chiếu xạ kiểm dịch quả vải xuất khẩu sang Úc, ngay sau khi nâng cấp đạt được các tiêu chuẩn kỹ thuật về thiết bị chiếu xạ, tháng 5 năm 2016, Trung tâm đã phối hợp với Cục Bảo vệ thực vật, Bộ NN và PTNT hoàn thiện hồ sơ xin cấp phép cho thiết bị chiếu xạ (Standard Operating Procedures for HIC Irradiation Facility) gửi Bộ Nông nghiệp Úc, và sau đó là thực hiện đánh giá phân bố liều (dose mapping) trong quả vải chiếu xạ ngay khi lứa vải “sớm” đầu tiên được thu hoạch để được phép xử lý chiếu xạ đối với quả vải.
 
Chiều 23.6, tại Hà Nội, lô vải thiều với trọng lượng hơn 2 tấn đã được tiến hành chiếu xạ ngay tại Trung tâm chiếu xạ Hà Nội trước khi lên đường xuất khẩu sang Australia. (Nguồn: baomoi.com)
 
Lê Văn Ngọc (42 tuổi), Nghi Lộc, Nghệ An: Ông đánh giá như thế nào về vai trò của công nghệ chiếu xạ trong xuất khẩu nông sản hiện nay? Cục Bảo vệ Thực vật có kế hoạch gì để đưa nông sản Việt Nam nói chung và quả vải nói riêng được xuất khẩu sang nhiều thị trường nước ngoài trong những năm tiếp theo, thưa ông?
 
Giám đốc Lê Nhật Thành: Công nghệ chiếu xạ trong xuất khẩu nông sản hiện nay được áp dụng để xử lý một số loài dịch hại nhất định theo yêu cầu của các nước nhập khẩu. Công nghệ này đã được một số nước trên thế giới chấp nhận và áp dụng. Song, tùy từng nước khác nhau mà người ta sử dụng công nghệ chiếu xạ và liều lượng khác nhau.
 
Theo tài liệu trong một cuộc hội thảo về chiếu xạ diễn ra đầu tháng 6 tại Úc, công nghệ chiếu xạ có tác dụng làm chậm quá trình chín của trái cây. Hiện nay, với quả vải, được phép nhập khẩu vào hai nước Mỹ và Úc đều phải qua chiếu xạ với liều lượng 400 Gy. Mặt khác, tùy từng nước khác nhau mà yêu cầu xử lý nông sản xuất khẩu có thể bằng chiếu xạ hoặc bằng công nghệ khác như xử lý lạnh, hơi nước nóng…
 
Hiện, Bộ NN và PTNT liên tục chỉ đạo Cục Bảo vệ thực vật thực hiện đàm phán với các nước, tháo gỡ hàng rào kỹ thuật để mở cửa thị trường nông sản Việt Nam vào các nước trên thế giới, đặc biệt là các nông sản có tiềm năng xuất khẩu.
 
Nguyễn Thị Mai Chi (37 tuổi), Giáp Bát, Hà Nội: Trung tâm Chiếu xạ Hà Nội đã được Bộ Nông nghiệp Úc công nhận đủ điều kiện và cho phép xử lý chiếu xạ kiểm dịch quả vải xuất khẩu sang thị trường Úc. Vậy, những điều kiện của phía Úc đối với cơ sở chiếu xạ là gì? Và năng lực hiện nay của Trung tâm trong chiếu xạ kiểm dịch quả vải ra sao, thưa ông?
 
Phó giám đốc Trần Minh Quỳnh: Cũng giống như Hoa Kỳ, các yêu cầu của Bộ Nông nghiệp Úc đối với cơ sở chiếu xạ là cơ sở phải tuân thủ các yêu cầu vệ sinh an toàn thực phẩm, phải được làm sạch định kỳ theo các quy trình vận hành chuẩn và đảm bảo vệ sinh (Sanitation Standard Operating Procedures), có khả năng xử lý chiếu xạ kiểm dịch với liều chiếu tối thiểu (Dmin) là 400 Gy và liều chiếu tối đa dưới 1000 Gy.
 
Với mục đích chiếu xạ kiểm dịch quả vải, hiện Trung tâm Chiếu xạ Hà Nội có thể xử lý đến 20 tấn/ ngày đêm. Căn cứ trên nhu cầu của các doanh nghiệp và khả năng chấp nhận của các thị trường nhập khẩu, Trung tâm chúng tôi có thể xem xét, tiếp tục cải tạo một số hạng mục để nâng công suất chiếu xạ kiểm dịch quả vải cũng như một số nông sản khác, đáp ứng yêu cầu thực tế của thị trường.
 
Ảnh: Duy Thông
 
Thạch Như Sơn (48 tuổi), Vĩnh Lợi, Bạc Liêu: Các doanh nghiệp đã có hoạt động “đón đầu” như thế nào trước xu thế hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng của Việt Nam, đặc biệt là sản xuất, bảo quản hàng nông sản thưa ông Thắng?
 
Tổng giám đốc Đàm Quang Thắng: Trước thềm hội nhập sâu rộng như hiện nay, các doanh nghiệp Việt Nam cần có sự chuẩn bị tốt về các điều kiện cơ sở, nguồn nhân lực, kiến thức, tài chính để hội nhập với thị trường thế giới. Để đáp ứng yêu cầu hội nhập, doanh nghiệp nông nghiệp cần có sự đồng bộ trong việc sản xuất và kinh doanh với những mặt hàng nông sản, cần có định hướng sản xuất theo chuỗi sản phẩm hàng hóa, quản lý chặt các khẩu để giảm chi phí sản xuất, bảo đảm an toàn thực phẩm, hạ giá thành để đáp ứng nhu cầu của các nước nhập khẩu. Cần ứng dụng KHCN vào các khâu để nâng cao giá trị nông sản, đặc biệt là khâu bảo quản, chế biến (đây vẫn là điểm yếu của nông sản Việt Nam). Việc này cần sự hỗ trợ rất lớn từ Bộ KHCN và các cơ quan, ban, ngành có liên quan và chính quyền địa phương.
 
Lê Văn Thịnh (45 tuổi), Lập Thạch, Vĩnh Phúc: Thưa ông trong thời gian tới, Cục Bảo vệ thực vật có những chính sách cụ thể gì để hỗ trợ người dân và doanh nghiệp trong chiếu xạ nông sản xuất khẩu?
 
Giám đốc  Lê Nhật Thành: Trong thời gian tới, Cục Bảo vệ thực vật sẽ tiếp tục hỗ trợ người dân và doanh nghiệp trong chiếu xạ nông sản xuất khẩu:
 
- Tiếp tục đàm phán mở cửa thị trường
Nguồn: ĐBNDO